Thực trạng chuyển đổi số ở Việt Nam

,

Với ưu thế là một nước đang phát triển, Việt Nam có khả năng tiếp cận công nghệ một cách nhanh chóng và doanh nghiệp Việt nam sẽ dễ dàng bắt nhịp với xu thế toàn cầu. Tuy nhiên thực trạng chuyển đổi số như thế nào? Những cơ hội hay những thách thức mà doanh nghiệp Việt sẽ đối mặt trong quá trình chuyển đổi số là gì ?

Tất cả những thắc mắc sẽ được giải đáp rõ ràng trong bài viết dưới đây.

Thực trạng chuyển đổi số trên thế giới:

 Có thể nói chuyển đổi số đang trở thành xu hướng toàn cầu. Chuyển đổi số đã thay đổi nhận thức của những nhà lãnh đạo từ bộ máy chính quyền của nhiều quốc gia cho đến các doanh nhân của các tập đoàn lớn và cả người quản lý của những doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Nếu như trước đây, công nghệ chỉ dành cho các công ty lớn, tiềm lực mạnh thì giờ đây những công ty nhỏ thậm chí là Startup đều có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại.

thuc-trang-chuyen-doi-so-o-viet-nam

Ảnh 1: Chuyển đổi số mang lại những lợi ích vượt trội cho doanh nghiệp.

Theo nghiên cứu của Microsoft, chuyển đổi số đã giúp tăng trưởng GDP từ 6% năm 2017 đến 25% năm 2019 và 60% năm 2021 tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Theo nghiên cứu của McKensey chỉ ra rằng, năm 2025 chuyển đổi số sẽ tác động  GDP nước Mỹ 25%,  Brazil là 35%, các nước Châu Âu là 36%.

Có thể thấy tốc độ chuyển đổi số tại các khu vực và quốc gia là khác nhau tùy vào sự phát triển công nghệ và tốc độ chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.

Hiện nay Châu Âu là khu vực có tốc độ chuyển đổi số nhanh nhất, thứ hai là Mỹ và các nước Châu Á.

Cũng theo khảo sát của Microsoft tại Châu Á, 44% trong nhóm 615 doanh nghiệp cho biết họ đã đo lường được mức độ thành công khi áp dụng chuyển đổi số. Điều này cho thấy rằng chuyển đổi số là yếu tố bắt buộc để doanh nghiệp “sống sót” trên thị trường.

Thực trạng chuyển đổi số ở Việt Nam:

Chính phủ Việt Nam đã  xác định được tầm quan trọng của Chuyển đổi số trong công cuộc xây dựng kinh tế, phát triển đất nước. Mục tiêu được nêu rõ trong “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Việt Nam có kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số ở mỗi ngành tối thiểu 10%; năng suất lao động tăng tối thiểu mỗi năm 7%; thuộc nhóm top 50 quốc gia dẫn đầu về CNTT.  Thực tế các chương trình của Chính phú đã tác động đến quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp, 64% các doanh nghiệp đã được hưởng lợi từ các chương trình đó, 36% đã biết đến chương trình nhưng chưa tham gia.

Ảnh 2: Chuyển đổi số được chính phủ Việt Nam ưu tiên hàng đầu.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia mạnh mẽ hơn vào trong công cuộc số hóa bởi dịch covid lan rộng. Điều này đòi hỏi phải thực hiện việc giãn cách xã hội, bắt buộc doanh nghiệp cần ứng dụng chuyển đổi số về quản lý, thanh toán điện tử, marketing trực tuyến.

Trong việc quản lý nội bộ, các doanh nghiệp đã ứng dụng chuyển đổi số tăng 19,5% so với thời điểm trước dịch Covid. Hệ thống họp trực tuyến, quản lý công việc đã được 30% doanh nghiệp ứng dụng.

Khi khảo sát về hiệu quả chuyển đổi số với doanh nghiệp, có đến 98% doanh nghiệp có sự thay đổi về hoạt động sản xuất kinh doanh nhờ giảm chi phí hơn 71%, giảm thủ tục rườm rà không đáng có chiếm 61,4%; nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ chiếm 45,3%.

Chuyển đổi số hiện nay ở nước ta diễn ra ở các lĩnh vực, các loại hình doanh nghiệp với nhiều mức độ khác nhau.

Chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng sẽ triển khai các hệ sinh thái trên nền tảng internet, cung ứng các dịch vụ ngân hàng thông qua các app được cài đặt trên điện thoại,…

Chuyển đổi số trong ngành vận tải với sự phát triển với dịch vụ gọi xe Grab , Be, Fastgo được xây dựng dựa trên nền tảng công nghệ.

Và với các ngành khác cũng đều được chuyển đổi đảm bảo tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu suất.

Tuy nhiên thực tế doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn như nhận thức của người quản lý, thiếu kiến thức về chuyển đổi số, chưa sẵn sàng đổi mới, thiếu nền tảng công nghệ thông tin, thiếu nguồn nhân lực vẫn dụng, thách thức về văn hóa trong chuyển đổi số doanh nghiệp,…

Do vậy theo khảo sát của Bộ Công Thương về sự sẵn sàng của doanh nghiệp khi ứng dụng công nghệ số có đến 82% ở vị trí mới bắt đầu, 61% chưa sẵn sàng, 21% doanh nghiệp có những hoạt động chuẩn bị, 16/17 ngành sẵn sàng ở mức thấp.

Điều này cho thấy để đạt được mục tiêu như định hướng của Chính Phủ thì doanh nghiệp cần giải quyết triệt để những thách thức đặt ra.

Những khó khăn doanh nghiệp Việt đang mắc phải khi chuyển đổi số.

Khó khăn về công nghệ: 

Quá trình chuyển đổi số là việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy đòi hỏi trình độ cao về kỹ thuật cũng như nhân lực.

Tuy nhiên Việt Nam còn đi sau thế giới về công nghệ, chúng ta còn phụ thuộc vào công nghệ cốt lõi trong chuyển đổi số và các platform cơ bản.  

Để đảm bảo việc chuyển đổi số thành công cần đảm bảo cơ sở hạ tầng phù hợp về ngắn hạn cũng như dài hạn. Đồng thời phải có nguồn nhân lực có kỹ năng vận hành các hệ thống công nghệ mới. Nhưng thực tế doanh nghiệp Việt còn yếu và thiếu 2 yếu tố này.  Mức độ sẵn sàng cho chuyển đổi số ở Việt Nam đang ở mức trung bình so với 141 quốc gia trên thế giới.

Khó khăn về vốn đầu tư:

Quá trình chuyển đổi hóa phải toàn diện từ việc thay đổi nhận thức, lên chiến lược phù hợp, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng, xây dựng cơ sở công nghệ số. Để thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn trên thì đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khá lớn. Và đây cũng là rào cản lớn cho doanh nghiệp  Việt Nam.

 

Ảnh 3: Nguồn vốn là rào cản lớn cho doanh nghiệp Việt

Theo thống kê, tại Việt Nam có hơn 98,1% doanh nghiệp SME và 99% doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn. Do đó nhiều doanh nghiệp cho rằng chuyển đổi số là mảnh đất của các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp còn lại sẽ ưu tiên trong việc đầu tư để tăng trưởng trong thời gian ngắn hạn.

Hiện nay nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam chọn chọn công nghệ “đám mây” giúp họ không phải đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng. Trong khảo sát của VCCI có đến 55,6% doanh nghiệp rào cản về tài chính khi chuyển đổi số.

Khó khăn về nhận thức của người lãnh đạo doanh nghiệp:

Khi bắt đầu chuyển đổi số thì sự thay đổi đầu tiên chính là tư duy người lãnh đạo. Rồi từ đó sẽ thay đổi chiến lược kinh doanh, hình thức hoạt động của doanh nghiệp.

Trong khi thực tế những người lãnh đạo hiện nay thường không được đào tạo bài bản về chuyển đổi số nên khó khăn trong việc triển khai. Hơn nữa nhiều doanh nghiệp đã thành công trong tư duy truyền thống nên khá ngại thay đổi, bắt kịp với thời đại.

Để triển khai thành công chuyển đổi số cần có tư duy thay đổi để đưa ra chiến lược kinh doanh công nghệ số hiệu quả, tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, tài chính đảm bảo và hệ thống công nghệ số.  Tuy nhiên những yếu tố này vẫn là trở ngại cho các doanh nghiệp Việt.

Mặc dù gặp phải những thách thức nhưng doanh nghiệp Việt cũng có những lợi thế để chuyển đổi số.

So với các nước trong khu vực, Việt Nam có chỉ số hạ tầng kết nối tốt, tỷ lệ thuê băng rộng trên tổng dân số cao chiếm 82% .

Hơn nữa, chính phủ Việt Nam xác định mục tiêu về chuyển đổi số nên đã đưa ra những chính sách ủng hộ cụ thể, các hoạt động chuyển đổi số cho các doanh nghiệp.

Quan trọng nhất hiện tại là mỗi doanh nghiệp cần thay đổi mô hình truyền thống cứng nhắc và ứng dụng mô hình làm việc linh hoạt, chủ động, phát huy sáng tạo mỗi cá nhân. Mô hình Agile- một khung tư duy được các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới ứng dụng vào và mang lại hiệu quả và thích ứng nhanh với mọi hoàn cảnh. Theo báo cáo CHAOS của Standish Group năm 2015 khẳng định rằng Agile có thể giúp tỉ lệ thành công của các dự án tăng gấp ba lần so với phương pháp hoạt động truyền thống. Để tìm hiểu về mô hình Agile hãy tìm hiểu tại đây

Có thể thấy, thực trạng chuyển đổi số ở Việt Nam vừa có những cơ hội nhưng cũng có những thách thức. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần quyết tâm hơn nữa để sẵn sàng cho sự thay đổi liên tục của thị trường. Việc thực hiện chuyển đổi số là cần thiết để đảm bảo cho doanh nghiệp vượt qua những khó khăn của bệnh dịch và phát triển trong tương lai.